Trang chủ Tin tức Tin giáo dục
Tin giáo dục
Những chính sách ưu tiên, cộng điểm thi ĐH,CĐ năm 2015
Thứ sáu, 19 Tháng 12 2014 02:07

Dự thảo Quy chế thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2015, Bộ GD-ĐT đã quy định rõ các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên. Theo đó, mức chênh lệch điểm trúng tuyển giữa hai nhóm đối tượng kế tiếp là 1,0 (một điểm), giữa hai khu vực kế tiếp là 0,5 (nửa điểm) đối với thang điểm 10.

Chính sách ưu tiên vào ĐH,CĐ có nhiều thay đổi so với năm trước
Chính sách ưu tiên vào ĐH,CĐ có nhiều thay đổi so với năm trước

 

Chính sách ưu tiên theo đối tượng.

 

Nhóm ưu tiên 1 (UT1) gồm:

Đối tượng 01: Công dân Việt Nam là người dân tộc thiểu số có hộ khẩu thường trú tại: Các xã khu vực I, II, III thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 - 2015; Các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2013 – 2015; Các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của Chương trình 135 năm 2014 và năm 2015...

Đối tượng 02: Công nhân trực tiếp sản xuất đã làm việc liên tục 5 năm trở lên trong đó có ít nhất 2 năm là chiến sĩ thi đua được cấp tỉnh trở lên công nhận và cấp bằng khen.

Đối tượng 03: Thương binh, bệnh binh, người có “Giấy chứng nhận người được hưởng chính sách như thương binh; Quân nhân, công an nhân dân tại ngũ được cử đi học có thời gian phục vụ từ 12 tháng trở lên tại khu vực 1; Quân nhân, công an nhân dân đã xuất ngũ, được công nhận hoàn thành nghĩa vụ phục vụ tại ngũ theo quy định.

Đối tượng 04: Con liệt sĩ; Con thương binh mất sức lao động 81% trở lên; Con bệnh binh mất sức lao động 81% trở lên; Con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 81% trở lên; Con của người được cấp “Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh mà người được cấp Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh bị suy giảm khả năng lao động 81% trở lên”. Con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị dị dạng, dị tật do hậu quả của chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp hàng tháng;

Nhóm ưu tiên 2 (UT2) gồm các đối tượng:

Đối tượng 05: Thanh niên xung phong tập trung được cử đi học; Quân nhân, công an nhân dân tại ngũ được cử đi học có thời gian phục vụ dưới 18 tháng không ở khu vực 1; Chỉ huy trưởng, Chỉ huy phó ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn; Thôn đội trưởng, Trung đội trưởng Dân quân tự vệ nòng cốt, Dân quân tự vệ đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ nòng cốt từ 12 tháng trở lên, dự thi vào ngành Quân sự cơ sở;

Đối tượng 06: Công dân Việt Nam là người dân tộc thiểu số có hộ khẩu thường trú ở ngoài khu vực đã quy định thuộc nhóm ưu tiên 1; Con thương binh, con bệnh binh, con của người được hưởng chính sách như thương binh mất sức lao động dưới 81%; Con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động dưới 81%; Con của người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Con của người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, giấy tờ để hưởng ưu tiên theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ; Con của người có công giúp đỡ cách mạng.

Đối tượng 07: Người khuyết tật nặng; Người lao động ưu tú thuộc tất cả các thành phần kinh tế được từ cấp tỉnh, Bộ trở lên công nhận danh hiệu thợ giỏi, nghệ nhân, được cấp bằng hoặc huy hiệu Lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Giáo viên đã giảng dạy đủ 3 năm trở lên thi vào các ngành sư phạm. Y tá, dược tá, hộ lý, kỹ thuật viên, y sĩ, dược sĩ trung cấp đã công tác đủ 3 năm trở lên thi vào các ngành y, dược.

Thời hạn tối đa được hưởng ưu tiên đối với quân nhân, công an phục viên, xuất ngũ, chuyển ngành dự thi hay đăng kí xét tuyển vào ĐH, CĐ là 18 tháng kể từ ngày ký quyết định xuất ngũ đến ngày dự thi thi hay đăng kí xét tuyển.

Người có nhiều diện ưu tiên theo đối tượng chỉ được hưởng một diện ưu tiên cao nhất.

Những trường hợp ưu tiên khác sẽ do Bộ trưởng Bộ GDĐT xem xét quyết định.

Các đối tượng được xét tuyển thẳng vào các trường ĐH, CĐ

 

Anh hùng lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Chiến sĩ thi đua toàn quốc đã tốt nghiệp trung học.

Người đã trúng tuyển vào các trường, nhưng ngay năm đó có lệnh điều động đi nghĩa vụ quân sự hoặc đi thanh niên xung phong tập trung nay đã hoàn thành nghĩa vụ, được phục viên, xuất ngũ mà chưa được nhận vào học ở một trường lớp chính quy dài hạn nào, được từ cấp trung đoàn trong quân đội hoặc Tổng đội thanh niên xung phong giới thiệu, nếu có đủ các điều kiện và tiêu chuẩn về sức khoẻ, có đầy đủ các giấy tờ hợp lệ thì được xem xét nhận vào học tại trường trước đây đã trúng tuyển.

Nếu việc học tập bị gián đoạn từ 3 năm trở lên và các đối tượng được tuyển thẳng có nguyện vọng, thì được xem xét giới thiệu vào các trường, lớp dự bị để ôn tập trước khi vào học chính thức.

Thí sinh tham dự kỳ thi chọn đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế, trong đội tuyển tham dự Cuộc thi sáng tạo khoa học, kĩ thuật quốc tế đã tốt nghiệp trung học được tuyển thẳng vào đại học theo ngành phù hợp với môn thi hoặc nội dung đề tài dự thi của thí sinh. Thí sinh trong đội tuyển quốc gia dự thi Olympic khu vực và quốc tế, Cuộc thi sáng tạo khoa học, kĩ thuật quốc tế nếu chưa tốt nghiệp trung học sẽ được bảo lưu sau khi tốt nghiệp trung học.

Thí sinh đã tốt nghiệp trung học là thành viên đội tuyển quốc gia, được Bộ Văn hoá thể thao và du lịch xác nhận đã hoàn thành nhiệm vụ tham gia thi đấu trong các giải quốc tế chính thức, bao gồm: Giải vô địch thế giới, Cúp thế giới, Thế vận hội Olympic, Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD), Giải vô địch châu Á, Cúp châu Á, Giải vô địch Đông Nam Á, Đại hội Thể thao Đông Nam Á (SEA Games), Cúp Đông Nam Á được tuyển thẳng vào các trường ĐH, CĐ thể dục, thể thao (TDTT) hoặc các ngành TDTT của các trường theo quy định của từng trường.

Thí sinh năng khiếu nghệ thuật đã tốt nghiệp trung học hoặc tốt nghiệp hệ trung cấp các trường năng khiếu nghệ thuật, đạt giải chính thức trong các cuộc thi nghệ thuật quốc tế về ca, múa, nhạc được tuyển thẳng vào học các ngành tương ứng trình độ ĐH, CĐ của các trường năng khiếu, nghệ thuật theo quy định của từng trường.

Những thí sinh đạt giải các ngành TDTT, năng khiếu nghệ thuật thời gian được tính để hưởng ưu tiên là không quá 4 năm tính đến ngày dự thi hay xét tuyển vào trường.

Thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia; thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba trong Cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia, đã tốt nghiệp trung học phổ thông được tuyển thẳng vào đại học theo đúng ngành hoặc ngành gần của môn mà thí sinh đã đoạt giải.

Thí sinh đoạt giải khuyến khích trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia; thí sinh đoạt giải khuyến khích trong Cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia, đã tốt nghiệp trung học phổ thông được tuyển thẳng vào cao đẳng theo đúng ngành hoặc ngành gần của môn mà thí sinh đã đoạt giải.

Thí sinh đoạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia, đoạt giải trong Cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia, nếu chưa tốt nghiệp trung học được bảo lưu sau khi tốt nghiệp trung học.

Đối với thí sinh là người khuyết tật đặc biệt nặng không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày: Hiệu trưởng các trường căn cứ vào kết quả học tập trung học phổ thông của học sinh (học bạ), tình trạng sức khỏe và yêu cầu của ngành đào tạo để xem xét, quyết định cho vào học.

Đối với thí sinh là người nước ngoài, có nguyện vọng học tại các trường đại học, cao đẳng Việt Nam: Hiệu trưởng các trường căn cứ kết quả học tập trung học phổ thông của học sinh (bảng điểm), kết quả kiểm tra kiến thức và tiếng Việt theo quy định của trường để xem xét, quyết định cho vào học.

Thí sinh có hộ khẩu thường trú từ 3 năm trở lên, học 3 năm và tốt nghiệp trung học phổ thông tại các huyện nghèo (học sinh học phổ thông dân tộc nội trú tính theo hộ khẩu thường trú), tính đến ngày nộp hồ sơ đăng kí xét tuyển theo quy định tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo và Quyết định số 293/QĐ-TTg ngày 05/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho 23 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao được áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định của Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo; thí sinh là người dân tộc rất ít người theo quy định tại Đề án phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010 - 2015 theo Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ và thí sinh 20 huyện nghèo biên giới, hải đảo thuộc khu vực Tây nam bộ.

Những thí sinh này phải học bổ sung kiến thức 01 năm học trước khi vào học chính thức. Chương trình bổ sung kiến thức do Hiệu trưởng các trường qui định.

Thí sinh tốt nghiệp khu vực nào được hưởng ưu tiên khu vực đó
Thí sinh tốt nghiệp khu vực nào được hưởng ưu tiên khu vực đó

Ưu tiên xét tuyển

Thí sinh không dùng quyền tuyển thẳng được ưu tiên xét tuyển vào các trường ĐH, CĐ.

Đối với thí sinh đoạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia, đoạt giải trong Cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia và đã tốt nghiệp trung học, sau khi hoàn thành Kỳ thi THPT quốc gia, có kết quả thi đáp ứng tiêu chí đảm bảo chất lượng đầu vào do Bộ GDĐT quy định, Hiệu trưởng các trường xem xét, quyết định cho vào học.

Thí sinh đoạt huy chương vàng các giải vô địch hạng nhất quốc gia tổ chức một lần trong năm và thí sinh được Uỷ ban Thể dục thể thao (TDTT) có quyết định công nhận là kiện tướng quốc gia đã tham dự kỳ thi THPT quốc gia, không có môn nào có kết quả từ 2 điểm trở xuống (hệ điểm 20), được ưu tiên xét tuyển vào ĐH TDTT hoặc các ngành TDTT tương ứng theo quy định của từng trường.

Thí sinh đoạt huy chương bạc, huy chương đồng của các giải vô địch hạng nhất quốc gia tổ chức 1 lần trong năm và thí sinh được Uỷ ban TDTT có quyết định công nhận là vận động viên cấp 1 quốc gia đã tham dự Kỳ thi THPT quốc gia, không có môn nào có kết quả từ 2 điểm trở xuống (hệ điểm 20), được ưu tiên xét tuyển vào CĐ Thể dục thể thao (TDTT) hoặc các ngành TDTT tương ứng của các trường.

Thí sinh năng khiếu nghệ thuật đã tốt nghiệp trung học hoặc tốt nghiệp hệ trung cấp các trường năng khiếu nghệ thuật, đoạt giải chính thức trong các cuộc thi nghệ thuật chuyên nghiệp chính thức toàn quốc về ca, múa, nhạc đã tham dự Kỳ thi THPT quốc gia, không có môn nào có kết quả từ 2 điểm trở xuống (hệ điểm 20), được trường ĐH, CĐ ưu tiên xét tuyển theo quy định của từng trường.

Những thí sinh đoạt giải các ngành TDTT, năng khiếu nghệ thuật thời gian được tính để hưởng ưu tiên là không quá 4 năm tính đến ngày thi tuyển sinh vào trường.

Chính sách ưu tiên theo khu vực

Thí sinh học liên tục và tốt nghiệp trung học tại khu vực nào thì hưởng ưu tiên theo khu vực đó. Nếu trong 3 năm học trung học có chuyển trường thì thời gian học ở khu vực nào lâu hơn được hưởng ưu tiên theo khu vực đó.

Nếu mỗi năm học một trường hoặc nửa thời gian học ở trường này, nửa thời gian học ở trường kia thì tốt nghiệp ở khu vực nào, hưởng ưu tiên theo khu vực đó. Quy định này áp dụng cho tất cả thí sinh, kể cả thí sinh đã tốt nghiệp từ trước năm thi tuyển sinh.

Các trường hợp sau đây được hưởng ưu tiên khu vực theo hộ khẩu thường trú: Học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú; Học sinh các trường, lớp dự bị ĐH; Học sinh các lớp tạo nguồn được mở theo quyết định của các Bộ, cơ quan ngang Bộ hoặc UBND cấp tỉnh.

Học sinh có hộ khẩu thường trú tại: Các xã khu vực I, II, III thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 - 2015; Các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2013 – 2015; Các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của Chương trình 135 năm 2014 và năm 2015.

Quân nhân, công an nhân dân được cử đi dự thi, nếu đóng quân từ 18 tháng trở lên tại khu vực nào thì hưởng ưu tiên theo khu vực đó hoặc theo hộ khẩu thường trú trước khi nhập ngũ, tùy theo khu vực nào có mức ưu tiên cao hơn; nếu dưới 18 tháng thì hưởng ưu tiên khu vực theo hộ khẩu thường trú trước khi nhập ngũ.

Các khu vực tuyển sinh được phân chia như sau:

Khu vực 1 (KV1) gồm: Các xã khu vực I, II, III thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 - 2015, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2013 - 2015 và các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của Chương trình 135 năm 2014 và năm 2015 theo quy định hiện hành.

Khu vực 2 - nông thôn (KV2-NT) gồm: Các địa phương không thuộc KV1, KV2, KV3.

Khu vực 2 (KV2) gồm: Các thành phố trực thuộc tỉnh; các thị xã; các huyện ngoại thành của thành phố trực thuộc trung ương (trừ các xã thuộc KV1).

Khu vực 3 (KV3) gồm: Các quận nội thành của thành phố trực thuộc trung ương. Thí sinh thuộc KV3 không thuộc diện hưởng ưu tiên khu vực.

Khung điểm ưu tiên theo đối tượng và khu vực

Mức chênh lệch điểm trúng tuyển giữa hai nhóm đối tượng kế tiếp là 1,0 (một điểm), giữa hai khu vực kế tiếp là 0,5 (nửa điểm) đối với thang điểm 10 (Nếu sử dụng thang điểm 20, mức chênh lệch điểm trúng tuyển giữa các nhóm đối tượng, giữa các khu vực dự kiến sẽ được nhân 2)

Theo Dantri

 
Diễn đàn giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp tại Việt Nam
Thứ sáu, 19 Tháng 12 2014 02:06

Hơn 200 đại biểu đến từ cơ quan quản lý nhà nước, các trường đại học và cơ quan sử dụng lao động đã tham dự Diễn đàn các bên liên quan trong giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng tại Việt Nam do Bộ GD-ĐT tổ chức ngày 18/12, tại Hà Nội.

Diễn đàn là cơ hội để các bên liên quan gặp gỡ, thảo luận về thực trạng và định hướng phát triển chương trình giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp tại Việt Nam. Đồng thời, đây cũng là dịp để các doanh nghiệp hiểu hơn những giá trị và lợi ích của chương trình giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng, từ đó tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp.

Phát biểu tại diễn đàn, ông Bùi Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho biết trong những năm qua, giáo dục đại học tại Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh về số lượng cơ sở đào tạo, đội ngũ giảng viên và quy mô sinh viên.

Hệ thống giáo dục đại học của nước ta hiện nay có 433 trường đại học, cao đẳng, đang đào tạo trên 2,1 triệu sinh viên, góp phần tích cực vào đào tạo nguồn nhân lực, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.

Tuy nhiên, so với yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, giáo dục đại học Việt Nam còn nhiều khoảng trống cần phải vượt qua. Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học.

Nộp hồ sơ đăng ký dự thi đại học-cao đẳng. Ảnh minh họa. (Ảnh: Phương Vy/TTXVN)
Nộp hồ sơ đăng ký dự thi đại học-cao đẳng. Ảnh minh họa. (Ảnh: Phương Vy/TTXVN)

Mới đây nhất, Luật Giáo dục đại học đã được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 18/6/2012 là khung pháp lý cho sự phát triển hệ thống giáo dục đại học trong tương lai với chủ trương phân tầng giáo dục đại học, trong đó sẽ hình thành các cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng, cơ sở giáo dục đại học định hướng thực hành.

Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hoàn thiện dự thảo Nghị định phân tầng và xếp hạng cơ sở giáo dục đại học và sẽ trình Chính phủ ban hành; theo đó các cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng sẽ chiếm số lượng đáng kể trong toàn hệ thống.

Như vậy, mô hình giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng sẽ trở thành xu thế phát triển chính trong đào tạo đại học tại Việt Nam.

Chương trình giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) được triển khai thí điểm lần đầu từ năm 2005 với sự hỗ trợ kỹ thuật của nhóm các trường đại học hàng đầu Hà Lan do Đại học Khoa học ứng dụng Saxion điều phối thông qua Tổ chức phát triển năng lực giáo dục đại học.

Đến nay, đã có khoảng 50 chương trình POHE được triển khai tại 8 trường đại học trên cả nước. Trong gần 10 năm qua, các chương trình POHE đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực làm việc thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thế giới nghề nghiệp.

Tại diễn đàn, các đại biểu đều nhấn mạnh vai trò của các bên liên quan trong giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng. Theo đó, Nhà nước giữ vai trò định hướng phát triển nguồn nhân lực quốc gia, điều phối lợi ích giữa các bên, đảm bảo sự phát triển của toàn hệ thống.

Nhà trường cung cấp sản phẩm giáo dục và dịch vụ cho xã hội, trong đó cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên là các bên liên quan quyết định danh tiếng, uy tín, chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhà trường. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp là người sử dụng lao động, sử dụng các sản phẩm của nhà trường. Vì vậy, Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi để nhà trường gắn kết chặt chẽ với nhà tuyển dụng trong tổ chức và quản lý đào tạo, cung cấp sản phẩm giáo dục ngày càng tốt hơn.

Đối với việc nhân rộng triển khai chương trình giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng, theo một số đại biểu, trước hết các trường phải xác định rõ sứ mệnh, tầm nhìn, chiến lược phát triển chương trình này và tập hợp được lực lượng cán bộ, giảng viên để thực hiện. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phối hợp với các bộ, ngành liên quan để ban hành các chính sách làm cơ sở pháp lí cho các trường triển khai.

Tiếp đó, Bộ sẽ triển khai giới thiệu mô hình tới các trường qua tài liệu, tập huấn, hướng dẫn xây dựng chương trình đào tạo, triển khai tổ chức và quản lý đào tạo.

Theo Vietnam+

 
Học bằng tiếng nước ngoài vẫn phải thi bằng tiếng Việt
Thứ sáu, 19 Tháng 12 2014 02:05

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong các trường học tại Việt Nam. Theo đó, Quyết định nêu rõ, đối với giáo dục phổ thông, việc kiểm tra, thi cuối năm học, cuối cấp học của các chương trình, môn học được dạy và học bằng tiếng nước ngoài phải thực hiện bằng tiếng Việt.

Học tiếng nước ngoài kiểm tra, thi bằng tiếng Việt
Giáo viên phổ thông phải có chứng chỉ năng lực ngoại ngữ tối thiểu cao hơn 2 bậc so với yêu cầu năng lực ngoại ngữ đối với học sinh.
 

Quy định về thi tiếng nước ngoài đối với bậc phổ thông, Quyết định nêu rõ, đối với giáo dục phổ thông, việc kiểm tra, thi cuối năm học, cuối cấp học của các chương trình, môn học được dạy và học bằng tiếng nước ngoài phải thực hiện bằng tiếng Việt. Người học có thể làm thêm bài kiểm tra, bài thi bằng tiếng nước ngoài để được hưởng chế độ khuyến khích trong học tập theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT.

Đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, việc kiểm tra, thi, đánh giá, công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ đối với tất cả các chương trình được dạy bằng tiếng nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam nếu cấp văn bằng, chứng chỉ của Việt Nam.

Đối với người dạy chương trình giáo dục, đào tạo bằng tiếng nước ngoài phải đạt trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định đối với chức danh nghề nghiệp đối với nhà giáo các cấp học, trình độ đào tạo tương ứng; đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu.

Cụ thể, giáo viên phổ thông phải có chứng chỉ năng lực ngoại ngữ tối thiểu cao hơn 2 bậc so với yêu cầu năng lực ngoại ngữ đối với học sinh đạt được sau khi học xong cấp học, tính theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương.

Người dạy tại các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp phải có năng lực ngoại ngữ tối thiểu bậc 5 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương. Những người được đào tạo đại học, thạc sỹ, tiến sỹ toàn thời gian ở nước ngoài thì được miễn yêu cầu về năng lực ngoại ngữ quy định trên.

Người học phải đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ theo yêu cầu của chương trình, môn học được dạy bằng tiếng nước ngoài và theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương.

Theo Dantri

 
Luận văn cao học cũng đầy lỗi chính tả
Thứ tư, 03 Tháng 12 2014 05:06

Câu hỏi này không mới nhưng bắt buộc phải đặt ra trong bối cảnh ngày càng nhiều người trẻ kém trong diễn đạt và sử dụng đúng tiếng Việt, không thích thú gì với môn ngữ văn trong nhà trường và nhất là khi Bộ GD-ĐT chuẩn bị cho lần đổi mới toàn diện chương trình - sách giáo khoa phổ thông.

Tiếng Việt gắn với học sinh ngay từ những năm học đầu tiên ở bậc tiểu học rồi trở thành môn ngữ văn ở cấp học cao hơn thế nhưng hiện nay rất ít học sinh thích thú với môn học này - Ảnh: Đào Ngọc Thạch

Học càng cao, lỗi chính tả càng nhiều !

Hiện nay không chỉ học sinh phổ thông, sinh viên ĐH mà cả học viên sau ĐH cũng viết sai chính tả.

Tiến sĩ Nguyễn Quý Thành, Khoa Giáo dục tiểu học và mầm non Trường ĐH Quy Nhơn, nhận định hiện tượng viết sai chính tả rất phổ biến trong HS và sinh viên ngày nay. Tiến sĩ Thành và các giáo viên tiểu học đã thực hiện một cuộc khảo sát với hơn 40.000 bài chính tả của HS tiểu học khu vực Nam Trung bộ và Tây nguyên. Không tính lỗi viết hoa, trong số 2.276 chữ được luyện, có 2.048 chữ bị HS từ lớp 1 đến lớp 5 ở 119 lớp viết sai chính tả. Số chữ bị lỗi chiếm 90% số chữ được luyện và chiếm gần 60% số chữ thống kê trong 10 quyển Tiếng Việt  chương trình tiểu học.

Từ kết quả khảo sát này, tiến sĩ Thành phân tích, số bài phạm lỗi chính tả chiếm tỷ lệ thấp nhất ở các khối lớp 1, những lớp trên do hình thức chính tả tập chép giảm dần trong khi độ dài văn bản tăng nên số lỗi cũng tăng theo.

Một giảng viên của Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM đưa chúng tôi xem qua một số luận văn cao học của các học viên chuyên ngành ngôn ngữ học của trường này. Có thể thấy hàng loạt lỗi sai rất đơn giản như: cánh khuỷa (viết đúng là “cánh khuỷu”), cái chỉnh (cái chĩnh), khuyết tán (khuếch tán), chẳn hạn (chẳng hạn), chỉnh sữa (chỉnh sửa)...

   

 Thậm chí, các lỗi sai thông thường này xuất hiện ngay trong luận án tiến sĩ của chuyên ngành này. Theo tiến sĩ Huỳnh Thị Hồng Hạnh, Phó trưởng khoa Văn học và ngôn ngữ Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, lỗi chính tả trong bài thi, luận văn của sinh viên và học viên cao học xuất hiện khá thường xuyên. Giảng viên một trường ĐH khác còn khẳng định: “Có những luận văn cao học, riêng lỗi sai chính tả có thể thống kê thành 5 trang đánh máy”.

Tiến sĩ Huỳnh Thị Hồng Hạnh cho rằng những lỗi sai của sinh viên ĐH và học viên sau ĐH phần nhiều là do chủ quan, cẩu thả và thiếu trách nhiệm trong viết lách. Phần nào đó lỗi sai là do năng lực ngôn ngữ của mỗi người, mà điều này đáng ra phải giải quyết rốt ráo ở bậc phổ thông. “Ở bậc ĐH, giảng viên không thể dạy và sửa chính tả cho sinh viên được”, tiến sĩ Hạnh nói thêm.

Người dạy viết chính tả cũng sai... chính tả

Năm học 2014 - 2015, Bộ GD-ĐT quy định không chấm điểm HS tiểu học, thay vào đó là phương án đánh giá, nhận xét của giáo viên. Trước quy định này, lãnh đạo một trường tiểu học tại TP.HCM tâm sự với chúng tôi rằng giáo viên của trường đang rất lo lắng. Theo vị hiệu trưởng này, nỗi lo thứ nhất của giáo viên là sợ không có đủ thời gian ghi lời nhận xét cho HS; và nỗi lo thứ hai là sợ phải… ghi lời phê sai chính tả. “Nhiều giáo viên vẫn còn viết sai chính tả. Nếu học trò đem về nhà, phụ huynh đọc và phát hiện được thì giáo viên làm sao ăn nói với HS và phụ huynh. Trong hơn 20 năm làm công tác quản lý, tôi đã chứng kiến biết bao trường hợp giáo viên ghi lời phê sai chính tả”, vị hiệu trưởng này cho biết. Bà đưa những ví dụ như thay vì viết “con cần cố gắng hơn” thì ghi là cố gắn, “con cần nỗ lực nhiều hơn” thì ghi là nổ lực… “Đó là chưa kể đến những câu cụt, câu què mà khi tôi đọc cũng không hiểu giáo viên muốn nói điều gì với HS”, bà nói thêm.

Thói quen phát âm địa phương

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Nhiều giáo viên cho biết hiện nay hầu như HS giỏi, dở gì cũng đều lên lớp cả. “Một HS tiểu học nếu viết sai chính tả, làm văn rất tệ thì cũng được ôn và kiểm tra lại đến 3 lần. Mà kiểm tra lại thì giáo viên sẽ ôn tập trung, giới hạn nội dung lại. Như vậy, chắc chắn các em đều lên lớp “non kiến thức”. Mà khi các em học yếu nhưng vẫn được lên lớp, các em sẽ cảm thấy đuối, cái sai trước sửa chưa xong thì lại phải tiếp thu cái mới, dẫn đến việc các em sai chính tả càng nhiều và khó có khả năng khắc phục được. Nguy hiểm hơn là việc viết sai chính tả đã đi vào tiềm thức thì rất khó sửa. Bởi lẽ, khi viết từ sai nhưng các em cứ đinh ninh mình viết đúng”, một giáo viên tiểu học tại Q.Tân Bình nói.

Một nguyên nhân khác mà theo chuyên viên một phòng giáo dục tại TP.HCM, một phần cũng do lỗi của giáo viên, nhất là những giáo viên chưa phát âm đúng, dùng từ sai chính tả. “Một giáo viên không vững chính tả thì sẽ cho ra hàng tá thế hệ HS viết sai”, vị chuyên viên này cho biết. Còn tiến sĩ Nguyễn Quý Thành cho rằng nhiều giáo viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc viết đúng chính tả. Tiến sĩ Thành nhấn mạnh: “Việc phát âm không chuẩn nói chung, đọc không chuẩn trong giờ học chính tả nói riêng là nguyên nhân khiến HS phạm lỗi. Có trường hợp HS viết lẫn lộn n/l là do giáo viên phát âm không phân biệt”.

Về vấn đề này, bà Lê Thị Ngọc Điệp, Hiệu trưởng Trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm (Q.1, TP.HCM), nhìn nhận: “Trong giao tiếp thông thường có thể chấp nhận phương ngữ. Nhưng trong lớp học, đặc biệt là các giờ tập đọc, tập viết, chính tả đòi hỏi ngôn ngữ phải chuẩn xác”. Cũng theo bà Điệp, ở lớp 1, giáo viên phải phát âm chuẩn nên giáo viên lúc nào cũng phải có ý thức trong sử dụng ngôn ngữ với trẻ.

Ngoài ra, nhiều ý kiến cũng chỉ ra rằng thiết kế chương trình tiếng Việt hiện nay khiến HS ít có cơ hội rèn chính tả, diễn đạt hơn. Chẳng hạn sách tiếng Việt tiểu học đã cắt bỏ luôn dạng bài chính tả so sánh các âm đầu, âm cuối, nên càng khiến cho HS khó viết đúng, nhất là những từ khó, từ dễ lẫn lộn. Sách Tiếng Việt cũng bỏ luôn phần định ngữ và bổ ngữ. Theo nhiều giáo viên, nếu dạy phần này HS có thể sẽ hành văn tốt hơn.

 
“Giáo dục chậm phát triển là chúng ta có tội, có nợ với dân tộc”
Thứ năm, 06 Tháng 11 2014 03:07

(GDVN) - GS. Trần Hồng Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nói như vậy khi bàn về một năm thực hiện Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Để chuẩn bị cho việc tổng kết một năm thực hiện Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Hội đồng Quốc gia giáo dục và phát triển nhân lực tiến hành ghi nhận ý kiến từ cơ sở, các chuyên gia và nguyên lãnh đạo quản lý ngành giáo dục.

Mô hình hay nhưng thực hiện có hay?

Trước việc thực hiện tinh thần đổi mới theo Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo, tại một số địa phương áp dụng mô hình trường học mới (viết tắt là VNEN) vào giảng dạy, coi đó là việc làm đổi mới theo xu thế thời đại. 

GS. Nguyễn Minh Đường, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề (Bộ LĐ TB&XH) cho biết, với mô hình trường học mới (VNEN), đây là mô hình mới, hiện đại nhưng chúng ta áp dụng được những gì cho việc đổi mới giáo dục, nếu chúng ta sử dụng chương trình của mình để dạy học theo chương trình của VNEN liệu có thành công? Hoặc dùng chương trình của VNEN để đổi mới dạy học thì liệu có giữ chuẩn đầu ra hay không? 

GS. Trần Hồng Quân: Giáo dục chậm phát triển là chúng ta có tội, có nợ với dân tộc. Ảnh Xuân Trung

GS. Đường cũng cho rằng, nếu giữ chuẩn đầu ra ở chương trình tiểu học như ở ta hiện nay thì không đủ thời gian? Sống trong thế kỷ 21 con người phải có 4 kỹ năng: giáo tiếp, học sinh phải được giao tiếp với bạn bè, xã hội, mọi người, không chỉ nói mà trình diễn, thứ nữa là kỹ năng làm việc theo nhóm, trong một xã hội hiện đại không ai làm một mình. Kỹ năng sáng tạo, phải biết sáng tạo, muốn sáng tạo thì phải có kỹ năng phản biện, phê phán. 

“Khi nhận một tri thức phải biết đúng sai như thế nào, biến tri thức của nhân loại thành của chính mình. Mô hình VNEN là rất tốt, nhưng vấn đề thực hiện như thế nào, muốn thực hiện được căn bản phải thay đổi chương trình, chứ không thể dạy chương trình hiện tại. Và phải thay đổi môi trường dạy học, thời gian dạy học” GS. Đường cho biết.

Có lời khuyên tới các trường thực hiện Nghị quyết 29, theo GS. Nguyễn Minh Đường cần tập trung vào hai vấn đề cơ bản là dạy học theo năng lực, tức là hãy biến những kiến thức trong sách vở như Toán, Lý, Hóa thành những năng lực của mỗi con người, để có thể làm được cái gì đó. 

Làm được vấn đề này không dễ, cần thay đổi chương trình, thay đổi các dạy cách học. Thứ hai là dạy tích hợp, theo GS. Đường sắp tới không dạy Lý, Hóa, Sinh mà dạy Khoa học tự nhiên, không dạy Sử, Địa mà dạy Khoa học xã hội. Giáo viên sẽ không còn Toán, Lý, Hóa hay Văn, Sử, Địa là chỉ còn Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội, và cái khó nhất làm thế nào để giáo viên có năng lực dạy tích hợp ba môn lại với nhau?

“Do đó, cấu trúc chương trình hãy theo chủ đề. Ví dụ, Trường Sa sẽ thành một chủ đề, động đến Địa lý, Lịch sử, Văn hóa. Dạy tích hợp vấn đề giáo viên hết sức cốt lõi, nếu không tích cực cải tổ sư phạm thì rất khó làm” GS. Đường cho biết.

Cũng theo GS. Nguyễn Minh Đường, không thể bắt giáo viên làm khác với chức năng của họ, bắt giáo viên soạn chương trình, bắt giáo viên soạn bài học tích hợp, tất cả đó không phải là nhiệm vụ của giáo viên mà là Bộ GD&ĐT phải làm, bộ phải xây dựng chương trình tích hợp, chương trình phát triển năng lực và bộ phải có sách giáo khoa để tập huấn cho giáo viên.

Có tội với dân tộc khi giáo dục chậm phát triển

GS. Trần Hồng Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT cho biết, về phía Trung ương có Nghị quyết 29, phía Chính phủ cũng đã có những quyết tâm rất mạnh mẽ để lần này chúng ta đổi mới toàn diện giáo dục. Đó là cơ hội hiếm có cho sự nghiệp giáo dục.

Các chuyên gia, nhà giáo góp ý kiến triển khai Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Giáo dục lâu nay có thuận lợi ở một môi trường, nhân dân hiếu học, dân tộc chúng ta không nhỏ, đứng thứ 13 trên thế giới về dân số, nhưng chúng ta vẫn là một nước yếu. Giáo dục có vai trò tạo sức mạnh cho đất nước bằng sức mạnh trí tuệ. Sau khi giải phóng (đã gần 40 năm) nhưng giáo dục chưa làm được gì. GS. Quân thừa nhận, đó là cái tội, là cái nợ của chúng ta đối với đất nước.

“Lần này là dịp để chúng ta nỗ lực. Với Nghị quyết 29 lâu nay chúng ta đã trả lời được chúng ta cần làm gì, nhưng vấn đề làm như thế nào thì chúng ta vẫn dừng lại. Trước hết là trách nhiệm ở tầm vĩ mô, nhưng ở cơ sở đã có những sự sáng tạo, đó là tâm huyết của các nhà giáo. Còn một câu hỏi, đời sống của giáo viên như thế nào? Đó là câu hỏi không thể không giải quyết trong quá trình đổi mới” GS. Quân cho hay.

GS. Trần Hồng Quân bày tỏ, trong giáo dục cơ bản có hai chuyện; nguồn lực và động lực sáng tạo. Nếu có được đường lối chung mà không giải quyết được hai yếu tố này cũng khó phát triển, làm sao làm cho từng cán bộ quản lý, từng nhà giáo muốn sáng tạo, muốn đổi mới. 

Còn việc đi đến dạy tích hợp như thế nào, GS. Trần Hồng Quân cho rằng, việc dạy tích hợp không chỉ tích hợp về kiến thức mà cần tích hợp về kỹ năng. 

“Với Nghị quyết lần này, với sự quyết tâm chung của toàn hệ thống, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ chắc chắn chúng ta sẽ làm được cái gì đó to lớn để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục” GS. Trần Hồng Quân tin tưởng.

Chia sẻ thêm, GS. Bành Tiến Long, nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT cho biết, giáo dục toàn diện với học sinh, trong đó phải tạo cho các em sự tự tin trước xã hội. Qua đây, GS. Long có kể câu chuyện vui nhưng cũng nói lên nhiều điều suy ngẫm. “Khi tôi là trưởng ban tổ chức Olympic Vật Lý quốc tế (năm 2008), gần 100 nước tham dự, học các nước đến và buổi ấn tượng nhất là buổi liên hoan, học sinh các nước tự tin lên hát, nhảy múa mang đậm sắc dân tộc họ, riêng học sinh chúng ta không làm được điều đó. Do đó, từ cấp mẫu giáo trở lên cũng phải xây dựng cho các em sự tự tin, và giáo dục toàn diện” GS. Long chia sẻ.

Nhận định về công tác triển khai Nghị quyết 29 tại các cơ sở, GS. Bành Tiến Long vui mừng cho rằng, ở các cơ sở đang có một sự chuyển động thực sự chứ chưa nói tới kết quả. Nhưng bên cạnh đó, vẫn còn có những cái khó, khó nhất làm sao thay đổi được tư duy giáo viên để đổi mới, đã thay đổi rồi thì hành động như thế nào? 

 
Người được mệnh danh "thông minh nhất hành tinh"
Thứ ba, 28 Tháng 10 2014 00:15

Grigori Perelman - "kẻ lập di" được mệnh danh là thiên tài toán học, người thông minh nhất hành tinh với công lao giải được bài toán Thiên niên kỷ đã khước từ hàng loạt những giải thưởng triệu đô danh giá và quay về "ở ẩn".

Chân dung thiên tài toán học lừng danh Grigori Perelman
Chân dung thiên tài toán học lừng danh Grigori Perelman

Grigori Perelman chào đời ngày 13/6/1966 tại Leningrad (nay là Saint Petersburg, Nga) trong một gia đình gốc Do Thái, với tên khai sinh đầy đủ là Grigoɲi Yakovlevich Perelman. Người cha đã di cư về Israel từ lâu, mẹ ông là Liuba Leibovna, giáo viên dạy toán tại một trường dạy nghề. Bà cũng là người nhen nhóm tình yêu và niềm đam mê toán học cho cậu con trai ngay từ khi Grigori Perelman còn bé.

Lên lớp 5,Grigori Perelmanbắt đầu tham gia các buổi sinh hoạt chuyên đề tại Trung tâm Toán học ở Cung Thiếu nhi Leningrad, do vị chuyên gia đầu ngành của bộ môn khoa học tự nhiên là Giáo sư Sergei Rukshin sáng lập.

Tới năm lớp 9, G.Perelmanchuyển sang trường Trung học Chuyên Toán - Lý số 239 ở ngoại ô thành phố. Tuy ngôi trường cách xa nhà nhưng nơi đây có thể thỏa mãn được lòng say mê toán học của cậu.

Năm 16 tuổi, G.Perelman là một trong sáu thành viên thuộcȠđội tuyển Liên Xô tham dự cuộc thi Olympic toán quốc tế (IMO) lần thứ 23 tổ chức tại Budapest (Hungary) năm 1982, và giành được Huy chương Vàng với điểm số tuyệt đối 42/42.

G. Perelman nổi tiếng ɮgay từ khi còn trẻ vì giải được những bài toán hóc búa nhất.
G. Perelman nổi tiếng ngay từ khi còn trẻ vì giải được những bài toán hóc búa nhất.

Sau khi trở về nước, G. Perelman được đặc cách vào học ở Trường đại học Tổng hợp quốc gia Leningrad (LGU). Với thành tích học tập xuất sắc, G. Perelman nhận được học bổng toàn phần mang tên ‘Lênin’ để chuyển lên làm nghiên cứu sɩnh.

Sau khi tốt nghiệp với tấm bằng phó tiến sĩ khoa Toán cơ của LGU, chuyên về lĩnh vực nghiên cứu hình dáng các vật thể trong không gian, G. Perelman về nhận công tác tại Phân nhánh Leningrad thuộc Viện Toán học cao cấp Steklov (LOMI, hiện là PDɍI) lừng danh.

“Kẻ lập dị” khước từ giải thưởng triệu đô

Năm 1991, G. Perelman được trao giải thưởng của Hội Toán học trẻ Leningrad về những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu chuyên môn, cũng là phần thưởng duy nhất trong đời mà G.ȠPerelman "chịu nhận".

Năm 1996, G. Perelman được trao giải thưởng của Hiệp hội Toán học châu Âu (EMS) cho các nhà toán học trẻ. Giải thưởng này như một bảo đảm cho người lĩnh giải sẽ được nhận vào làm tại các trường đại học danh giá nhất ở Mỹ và cˡc nước châu Âu, cũng là đảm bảo cho một cuộc sông vật chất đủ đầy trong tương lai. Nhưng Grigori Perelman đã nhất quyết từ chối.

Năm 2006, Liên minh Toán học Quốc tế (IMU) với trụ sở tại Berlin (Đức) quyết định trao Huy chương Fields, phần thưởng ɣao quý vốn được mệnh danh là "giải Nobel Toán học" cho G. Perelman, nhưng Perelman cũng đã thẳng thừng từ chối mặc cho ban tổ chức có thuyết phục thế nào.

Perelman đã phát biểu rằng: "Tôi không hứng thú với tiền bạc hay danh vọng. Tôi không muốɮ bị trưng bày như động vật trong sở thú. Tôi không phải là một anh hùng toán học. Đó là lý do tại sao tôi không muốn mọi người nhìn mình".

Ở thời điểm này tên tuổi của G. Perelman đã được cả thế giới biết tới như một thiên tài lỗi lạc, khi vàoȠdịp tổng kết năm 2007 tạp chí học thuật hàng đầu Sience đã tôn vinh danh hiệu "Breakthrough of the Year" (Khám phá của năm) cho G. Perelman, qua kỳ tích đã chứng minh được giả thuyết hình học của Thurston, tạo tiền đề cho việc khám phá Giả thuyết Pɯincare. Đây là lần đầu tiên trong hơn một thế kỷ tồn tại của mình, tạp chí Sience mới phong danh hiệu này cho lĩnh vực toán học.

Giả thuyết Poincare hay còn được gọi theo cách khác là công thức hình thể của vũ trụ, được nhà toán học gạo cội người Pháp Jules Henri Poincare (1854-1912) nêu ra vào năm 1904, là một trong những mệnh đề toán học hóc búa nhất suốt một thế kỷ qua chưa ai giải được.

Bức ảnh hiếm hoi chụp

kẻ lập dị Perelman trên phương tiện giao thông công cộng.
 
Bức ảnh hiếm hoi chụp "kẻ lập dị" Perelman trên phương tiện giao thông công cộng.

Đến đầu năm 2010, Viện Toán học Clay (CMI), một tổ chứɣ phi lợi nhuận lừng danh đặt trụ sở ở thành phố Cambridge (Massachusetts, Mỹ) ra quyết định trao giải thưởng Thiên niên kỷ cho nhà toán học Nga G. Perelman, vì đã chứng minh được Giả thuyết Poincar kèm phần thưởng là 1 triệu USD. Nhưng cũng như 2 giải thưởng quốc tế trước kia, lần này ông vẫn khăng khăng cự tuyệt cho dù đại diện Viện Clay đề nghị đích thân đến tận nhà trao giải cho G. Perelman

Lý giải việc liên tục từ chối những giải thưởng danh giá đang mơ ước, "kẻ lập dị" nói qua khe cửa căn hộ, ɮơi ông đang sống cùng bà mẹ tại quận Kupchino, khi báo giới địa phương đổ đến phỏng vấn rằng: "Tôi đã có tất cả những gì mình muốn, nên không quan tâm đến tiền bạc hay danh vọng!".

Cho tới năm 2011, Grigori Perelman lại từ chối trở thành viện sỹ Viện hàn lâm khoa học Nga. Tuy chỉ là danh hiệu trong nước nhưng xét về giá trị vật chất thì nó còn lớn hơn tất cả những giải thưởng mà ông đã “từ chối” trước kia.

Hiện nay, những đồng nghiệp tại PDMI cho biết G. Perelman đã lặng lẽ rời khỏi ɶiện, chuyển sang "ở ẩn" và nghiên cứu tại gia. "Anh ấy đôi khi có vẻ hơi… khùng khùng, và lập dị nhưng đó là hiện tượng thường thấy ở những nhà khoa học đầy tài năng", Viện phó PDMI Sergei Novikov, người từng làm việc lâu năm bên cạnh G. Perelman thổ lộ.<ȯP>

Tiến sĩ Grigori

Perelman hiện tại

Tiến sĩ Gɲigori Perelman hiện tại

Năm 2007, nhật báo The Daily Telegraph của Anh đã xếp nhà toán học tài ba Grigori Perelman đứng thứ 9 trong bản danh sách "100 thiên tài đương đại đang còn sống".

Trong danh sách này còn có tên 2 ngʰời Nga khác là đại kiện tướng cờ vua thế giới Garry Kasparov được xếp thứ 25, còn nhà phát minh ra kiểu súng tiểu liên tự động AK -47 Mikhail Kalashnikov xếp thứ 83.

Thu Phương (tổng hợp từ Telegraph, Guardian)

 
Nhu cầu nhân lực ngân hàng tăng trở lại
Thứ hai, 27 Tháng 10 2014 00:10

 

Theo ông Trần Anh Tuấn – phó giám đốc Trung tâm dự báo nguồn nhân lực TP.HCM nhu cầu nhân sự ngành ngân hàng đang tăng trở lại sau thời gian bảo hòa, thay đổi cấ trúc những năm qua

Nhu cầu nhân sự ngành ngân hàng đang tăng trở lại

Tại hội thảo Chia sẻ kinh nghiệm và định hướng nghề nghiệp trong ngành tài chính ngân hàng, sáng 25-10, nhiều đại biểu khẳng định nhu cầu nhân sự ngành ngân hàng đang hồi phục. Hội thảo do Trường ĐH Tài chính marketing (TP.HCM) tổ chức.

Theo ông Trần Anh Tuấn – phó giám đốc Trung tâm dự báo nguồn nhân lực TP.HCM, sau thời gian khủng hoàng phải tái cấu trúc, cắt giảm nhân lực đến 50% trong những năm vừa qua, năm 2014, các ngân hàng bắt đầu tuyển dụng nhân sự trở lại. Tuy nhu cầu nhân sự trong lĩnh vực tài chính ngân hàng bắt đầu hồi phục nhưng xu hướng tuyển dụng đã thay đổi: chỉ có 40% nhu cầu nhân sự chính thức, còn lại là thực tập sinh.

Nhân lực ngành ngân hàng

Nhu cầu nhân sự ngành ngân hàng

Tương tự, ông Nguyễn Quốc Oai, giám đốc chi nhánh Phú nhuận ngân hàng Bưu điện Liên Việt – cho biết hiện nay các chi nhánh tại TP.HCM và Hà Nội của ngân hàng này vẫn liên tục tuyển người trong khi ở các tỉnh thì nhân lực rất thiếu. Hầu hết các ngân nhàng đều tuyển dụng thông qua đơn ứng tuyển của ứng viên gửi đến trang web của từng ngân hàng.

Ông Oai nêu ra qui trình tuyển dụng và lưu ý ứng viên khi phỏng vấn cần tránh một số điều làm mất "điểm" trước nhà tuyển dụng như nói năng không rõ ràng (các vị trí tại ngân hàng đều phải tiếp xúc khách hàng nên cần kỹ năng giao tiếp tốt), thiếu trung thực, không tìm hiểu kỹ về ngân hàng và vị trí mình ứng tuyển…

Tại hội thảo, cán bộ quản lý các ngân hàng cũng chia sẻ chi tiết về các yêu cầu và công việc cụ thể, mức lương trong ngân hàng..

Theo Minh Giảng, Tuổi trẻ

 

 
Những trường học có học phí 400 - 500 triệu đồng
Thứ bảy, 25 Tháng 10 2014 03:11

Trong khi mức học phí các trường công lập chỉ vài trăm ngàn/năm thì phí, học phí các trường tư thục, quốc tế tại Hà Nội có trường lên đến hơn 500 triệu/10 tháng học. Học sinh ngoài chuyện có tiền cũng phải trải qua kiểm tra đánh giá, đủ điều kiện mới được vào.

Hình ảnh Những trường học có học phí 400 - 500 triệu đồng số 1
Thư viện Trường quốc tế Liên hợp quốc (UNIS Hanoi). Tại đây, học phí các lớp từ 10 -12 dao động từ 22.000 - 23.000 USD/năm. Ảnh: Lê Anh Dũng

Trung bình mỗi năm tổng số học sinh tại các trường này chỉ dao động ở mức 300 em. Trong đó 90% chỉ tiêu tuyển sinh là dành cho các em nhỏ có quốc tịch nước ngoài hoặc bố mẹ là cán bộ ngoại giao được ưu tiên. 10% còn lại là dành cho các em nhỏ người Việt có mong muốn được theo học ở trường.

Học sinh tại các trường này thường được bố mẹ đầu tư từ mẫu giáo nên khả năng ngoại ngữ của phần lớn các em đều rất tốt.

Tại trường Lycee Francais – trường quốc tế Pháp, trường chỉ nhận tuyển sinh mới cho hệ mẫu giáo, còn từ hệ tiểu học trở lên trường chỉ tiếp nhận các em có quốc tịch Pháp và sử dụng được tiếng Pháp trôi chảy thành thạo.

Ngoài các chương trình cơ bản theo SGK của Bộ GD-ĐT, các trường quốc tế hay tư thục đều tập trung vào giảng dạy chương trình song ngữ với lời giới thiệu là chương trình chuẩn quốc tế cùng với đó là mức học phí cao ngất ngưởng.

Tại một số trường quốc tế cao cấp hàng đầu ở Hà Nội như: Hanoi International School (HIS), United Nations International School có mức học phí trung bình 450 triệu đồng cho 1 năm học (10 tháng), chưa kể các khoản phí khác như phí ghi danh, phí cơ sở vật chất, phí bán trú, phí đưa đón,… cộng lại cũng dao động trên dưới 100 triệu triệu đồng.

Mức đóng tại Singapore International School (SIS), Lycee Francais gần 250 triệu đồng/năm/10 tháng (đã gồm các khoản phí phụ ngoài học phí).

Tại Trường phổ thông song ngữ liên cấp Wellspring, nếu từ lớp 1 đến lớp 5 mức học phí cho một năm học của năm 2014-2015 là 92,9 triệu đồng thì bậc THCS là 107 triệu đồng, lên THPT học sinh có nhiều chương trình để lựa chọn với mức học phí từ hơn 123 triệu đồng (chương trình tú tài Việt Nam&một số tín chỉ Hoa Kỳ) đến hơn 207 triệu đồng/năm (chương trình Cambridge AS/A level).

 

Hình ảnh Những trường học có học phí 400 - 500 triệu đồng số 2
Phí, học phí tại Trường phổ thông song ngữ liên cấp Wellspring.

Đó là chưa kể hàng loạt các khoản phí như phí bán trú, phí nội trú, phí xây dựng và phát triển trường, phí kiểm tra xếp lớp, đồng phục, SGK, học liệu, học phẩm, tiền đưa đón, bảo hiểm,…mỗi học sinh cũng phải đóng thêm dao động từ 100 triệu đồng đến gần 150 triệu đồng.

Tại Trường quốc tế Việt Anh (BVIS), mức học phí cho học sinh từ bậc mầm non lên THPT của trường cũng cao ngất ngưởng, từ hơn 150 triệu đồng đến hơn 330 triệu đồng/năm. Cụ thể:

Hình ảnh Những trường học có học phí 400 - 500 triệu đồng số 3
Bảng học phí của học sinh Trường quốc tế Việt Anh.

Học phí của học sinh Trường phổ thông liên cấp Olympia (Hà Nội) được chia theo cấp học với mức độ tăng dần. Theo đó, bậc tiểu học có mức học phí là 99 triệu đồng/10 tháng, học sinh THCS mức học phí là 114 triệu đồng/10 tháng, học sinh lớp 9 có mức học phí 126 triệu đồng/11 tháng, bậc THPT là 129 triệu đồng/10 tháng. Các khoản phí khác của trường cũng trên dưới 70 triệu đồng/học sinh/năm. Cụ thể

Cấp học

Thành tiền

Tiểu học

99.000.000 VNĐ/ 10 tháng

Trung học Cơ sở

114.000.000 VNĐ/ 10 tháng

Trung học Cơ sở - Lớp 9

126.000.000 VNĐ/ 11 tháng

Trung học Phổ thông

129.000.000 VNĐ/ 10 tháng

Trường quốc tế Việt Úc (Hà Nội) có mức học phí thấp hơn một chút. Đối với hệ bán quốc tế, bậc tiểu học: 70 triệu đồng, lớp 6: 81 triệu đồng, lớp 7 và lớp 8 (học 11 tiết/tuần với GV nước ngoài): 85 triệu đồng, lớp 9: 83 triệu đồng, lớp 10 và lớp 11: 90 triệu đồng, lớp 12: 92 triệu đồng.

Đối tượng học sinh

Mức phí
(VNĐ)

Tiểu học

70.000.000

Lớp 6

81.000.000

Lớp 7 và lớp 8 (học 11 tiết/tuần với GV nước ngoài)

85.000.000

Lớp 9

83.000.000

Lớp 10, 11

90.000.000

Lớp 12

92.000.000

Ngoài ra, tổng các khoản phí khác của học sinh dao động ở mức trên dưới 50 triệu đồng/năm.

Với hệ chất lượng cao, học phí của học sinh tại trường này thấp hơn hệ bán quốc tế đến hơn một nửa.

Đối tượng học sinh

Mức phí
(VNĐ)

Lớp 1, 2, 3

33.000.000

Ngoài ra, tổng các khoản phí khác của học sinh dao động ở mức trên 32 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, các khoản phí nêu trên chưa bao gồm tiền đồng phục, tiền SGK.

TạiTrường song ngữ Hà Nội – Academy mức học phí học sinh từ bậc mầm non lên THPT cũng ở mức ngất ngưởng. Cụ thể:

Học phí mầm non

74.600.000 đồng/năm học

Học phí tiểu học 

93.600.000 đồng/năm học

Học phí THCS 

106.600.000 đồng/năm học

Học phí THPT 

124.600.000 đồng/năm học

Các khoản phí khác của trường này cũng dao động trên dưới 70 triệu đồng.

Trường song ngữ quốc tế Newton (Hà Nội) có mức học phí khủng không kém khi hệ GWIS (Mỹ) học sinh từ lớp 6 đến lớp 12 có học phí từ 119 triệu đồng đến 137 triệu đồng/năm.

Cụ thể mức học phí của học sinh theo học tại trường này: 

LỚP

Hệ Bán Quốc tế (vnđ/ tháng)

HỆ  Cambridge (vnđ/tháng)

HỆ  GWIS (MỸ) (vnđ/tháng)

Lớp 1 đến lớp 2

3.000.000

4.800.000

4.900.000

Lớp 3, lớp 4, lớp 5

4.000.000

5.500.000

6.500.000

Lớp 6, lớp 7, lớp 8

4.900.000

6.500.000

11.900.000

Lớp 9, lớp 10

5.100.000

7.500.000

12.700.000

Lớp 11, lớp 12

5.300.000

8.500.000

13.700.000

Không kém cạnh là mức học phí tại các trường tư thục. Tuy nhiên mức phí khác tại các trường này ít hơn nhiều so với trường quốc tế dao động trong khoảng 20-30 triệu đồng/năm.

Tại Trường THPT Nguyễn Siêu, học sinh học lớp 10 theo chương trình song ngữ quốc tế Cambridge đóng 65 triệu đồng/10 tháng. Trong khi đó học sinh theo học hệ chất lượng cao có mức phí 37triệu đồng/10 tháng. Hệ THCS, học sinh học lớp 6 hệ song ngữ có học phí là 68 triệu đồng/10tháng. Hệ chất lượng cao có học phí 40 triệu đồng/10tháng.

Lớp

Hệ song ngữ quốc tế (học phí cho 1 năm học)

Hệ chất lượng cao (học phí cho 1 năm học)

Lớp 6

68 triệu đồng

40 triệu đồng

Lớp 10

65 triệu đồng

37 triệu đồng

Tại Trường Marie Curie trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, Hà Nội: Học sinh lớp 6 theo lớp truyền thống có mức học phí: 1 triệu đồng/tháng. Học theo chương trình chuẩn quốc tế với quy mô 24 HS/lớp, tiếng Anh chuẩn quốc tế do Language Link giảng dạy có học phí 22 triệu đồng/năm, cộng thêm tiền học bán trú do Trường Marie Curie giảng dạy: 40 triệu đồng/năm (tổng 62 triệu đồng/năm).

Ở khối lớp 10, học sinh theo học lớp truyền thống có mức học phí hàng tháng là 1,8 triệu đồng/tháng. Lớp tiếng Anh chuẩn quốc tế với 24 HS/lớp có học phí 28 triệu đồng/năm và tiền học do EMG Education giảng dạy tương đương 1.200USD (hơn 26 triệu đồng)/năm học, tổng 52 triệu đồng/năm học.

Tại Trường Ecopark Đoàn Thị Điểm, Hà Nội học sinh học tiểu học và THCS có mức học phí 25 triệu đồng/năm. Học sinh lớp 6 chuyên tiếng Anh có mức học phí 30 triệu đồng/năm.

Tại Trường THPT Lô-mô-nô-xốp (trên đường Lê Đức Thọ, Hà Nội) mức học phí học sinh lớp 10 là 1,3 triệu đồng. Học sinh theo học lớp chương trình tiếng Anh học thuật và luyện thi IELTS đi du học trường thu thêm 100 USD (gần 2,2 triệu đồng), tức học phí gần 35 triệu đồng/10 tháng. Nếu là lớp học thêm 2 tiết/tuần tiếng Anh do GV nước ngoài dạy đóng thêm 300.000 đồng/tháng. Các lớp học ngoại ngữ 2 đóng thêm 200.000 đồng/tháng.

 
Tán thành giáo dục cơ bản 9 năm
Thứ sáu, 24 Tháng 10 2014 08:57

Trình bày báo cáo, GS Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa giáo dục thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội cho biết, về mục tiêu đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, Ủy ban cơ bản tán thành Tờ trình của Chính phủ xác định mục tiêu của việc đổi mới CT, SGK phổ thông là nhằm tạo sự chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục. 

Bảo đảm thực hiện mục tiêu của đổi mới giáo dục chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức một chiều sang phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực học sinh;

Từ nền giáo dục nặng về dạy chữ, ứng thí sang nền giáo dục thực học, thực nghiệp, góp phần quan trọng phát triển con người có năng lực và phẩm chất tốt.

Tán thành giáo dục cơ bản trong 9 năm

Theo ông Thi, dư luận giới giáo dục và khoa học nhất trí giáo dục phổ thông kéo dài 12 năm và chia thành hai giai đoạn: Giáo dục cơ bản (gồm cấp tiểu học và THCS) và giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp THPT). 

Tán thành giáo dục cơ bản 9 năm - 1

Giáo dục phổ thông kéo dài 12 năm và chia thành hai giai đoạn: Giáo dục cơ bản (gồm cấp tiểu học và THCS) và giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp THPT). 

Tuy nhiên, hiện có hai luồng ý kiến về số năm của giai đoạn giáo dục cơ bản. Luồng thứ nhất đề nghị giáo dục cơ bản trong 9 năm (5 năm tiểu học và 4 năm THCS). Luồng thứ hai lại cho rằng giáo dục cơ bản cần 10 năm (5 năm tiểu học và 5 năm THCS hoặc 6 năm tiểu học và 4 năm THCS).

Về việc này, Ủy ban VHGDTNTN&NĐ tán thành với luồng ý kiến thứ nhất. Bởi theo ông Thi, việc thực hiện giáo dục cơ bản 10 năm sẽ làm tăng thời gian giáo dục phổ cập bắt buộc thêm một năm, đòi hỏi ngân sách nhà nước tăng mạnh đầu tư cho giai đoạn giáo dục này. 

Việc tăng một lớp ở cấp THCS hoặc cấp tiểu học và giảm một lớp ở cấp THPT sẽ gây xáo trộn, mất cân đối về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên các cấp học phổ thông.

Hơn nữa, việc dôi dư cơ sở vật chất và giáo viên cấp THPT có thể dẫn đến tăng tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THCS học tiếp lên THPT, đi ngược chủ trương phân luồng học sinh sau THCS.

Ngoài ra, việc kéo dài thêm một năm giáo dục cơ bản là thực sự không cần thiết, bởi vì sau THCS, một bộ phận học sinh sẽ học sơ cấp, trung cấp nghề nghiệp hoặc tham gia lao động phù hợp và 9 năm giáo dục cơ bản hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu. 

Với những học sinh sẽ học lên CĐ, ĐH thì những nội dung giáo dục bổ sung, nâng cao thể thực hiện trong năm học đầu của cấp THPT hoặc qua mô đun văn hóa của trình độ trung cấp nghề nghiệp.   

Chương trình giáo dục thống nhất nhưng cần linh hoạt

Trên cơ sở kết quả khảo sát thực tiễn tại các cơ sở giáo dục nhiều địa phương, Ủy ban nhận thấy chương trình giáo dục hiện hành nhìn chung vượt quá khả năng đáp ứng về đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất của nhà trường cũng như khả năng tiếp thu của học sinh. 

Mặt khác, việc thực hiện cứng nhắc một chương trình chung không phù hợp với học sinh các địa phương, cơ sở giáo dục với đặc thù và điều kiện khác nhau, hạn chế chất lượng, hiệu quả học tập.

Vì vậy, Ủy ban đề nghị ban hành một chương trình giáo dục phổ thông thống nhất nhưng khả thi, mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường.

Ngoài ra, theo ông Thi, trong thời gian qua việc dạy học tích hợp chủ yếu mới chỉ được thực hiện ở cấp tiểu học, còn ở cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông thì mới bước đầu được triển khai nhưng ở mức thấp và thiếu tính hệ thống, nhất quán, hiệu quả dạy học còn hạn chế. 

Việc dạy học phân hóa đã được thực hiện theo hình thức phân ban THPT, thực chất là học tự chọn theo nhóm các môn học nâng cao về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội hoặc theo khối thi ĐH. Thực tiễn cho thấy hình thức phân ban đã không thành công.

Vì vậy Ủy ban nhất trí định hướng đổi mới CT, SGK lần này sẽ phải tích hợp mạnh theo lĩnh vực, liên môn ở các cấp học dưới và phân hóa sâu ở cấp THPT theo hướng tăng cường các môn học, chuyên đề tự chọn và áp dụng phương thức tích lũy tín chỉ.

Ủy ban cũng đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung các giải pháp khắc phục sự thay đổi cơ cấu môn học và đội ngũ giáo viên phát sinh khi dạy học tích hợp mạnh và đáp ứng sự gia tăng yêu cầu về cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ giáo viên và năng lực cán bộ quản lý khi tăng cường các môn học, chuyên đề tự chọn và áp dụng phương thức tích lũy tín chỉ.

Cần cân nhắc việc thực nghiệm chương trình mới

Theo báo cáo, đổi mới CT, SGK lần này bao gồm nhiều nội dung, phương thức tổ chức giáo dục mới, cần thực nghiệm nghiêm túc, cẩn trọng trên quy mô nhỏ trước khi áp dụng đại trà để tránh rủi ro. 

Những đổi mới trong khuôn khổ một lớp có thể thực nghiệm đồng thời theo lớp, nhưng những đổi mới có tính chất xuyên cấp học thì phải thực nghiệm theo hình thức cuốn chiếu lần lượt từ lớp dưới lên lớp trên. 

Việc triển khai đại trà CT, SGK mới cũng cần cân nhắc hợp lý. Đối với cấp tiểu học có thể thực hiện đồng thời ở tất cả các lớp, nhưng đối với cấp THCS, THPT thì cần theo hình thức cuốn chiếu ở mỗi cấp học.

Về kinh phí thực hiện đổi mới CT,SGK giáo dục phổ thông, Ủy ban đề nghị Ban soạn thảo bổ sung thêm phần khái toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ của các địa phương để có khái toán tổng thể kinh phí chi cho Đề án. 

Theo Thanh Hùng (Infonet.vn)

 
Tuyển sinh đại học năm 2015: Nhiều trường bỏ hẳn khối A
Thứ sáu, 24 Tháng 10 2014 08:56

Năm 2015, trường ĐH Thương mại sẽ dựa vào kết quả của kỳ thi THPT quốc gia do Bộ tổ chức để làm căn cứ xét tuyển sinh.

Ông Nguyễn Hóa, Trưởng phòng đào tạo trường ĐH Thương mại cho biết,  năm 2015 trường ĐH Thương mại chọn 2 tổ hợp môn thi là khối A1 (Toán, Vật Lý, tiếng Anh) và tổ hợp thứ hai là khối D (Toán, Ngữ văn và Tiếng Anh).

Tuyển sinh đại học năm 2015: Nhiều trường bỏ hẳn khối A - 1

Tất cả các thí sinh thi vào Đại học Thương mại năm 2015 sẽ bỏ hẳn khối A.

Theo đó, năm 2014, trường vẫn còn một số ngành tuyển sinh vào theo khối A. Năm nay đã có sự thay đổi khi thí sinh thi vào tất cả các ngành sẽ không còn khối A. Trường sẽ bỏ hẳn khối thi này.

Ông Hóa lý giải, khối A (Toán, Vật Lý, Hóa học) không còn thích hợp với các trường theo ngành kinh tế. Sử dụng môn tiếng Anh thay môn Hóa học như trước đây sẽ là thích hợp hơn với yêu cầu của trường.

Ông cho biết thêm, trường cũng sẽ không đưa ra những điều kiện để tổ chức sơ tuyển thí sinh.

Trong khi đó, trường ĐH Giao thông vận tải sẽ không tổ chức thi riêng mà sẽ lấy ngay kết quả của kỳ thi THPT quốc gia để làm căn cứ xét tuyển sinh. Đặc biệt, năm nay sẽ có thêm khối thi A1 vào gần như hầu hết các ngành của trường.

Riêng với những thí sinh đã tốt nghiệp THPT những năm trước sẽ áp dụng theo quy chế của kỳ thi THPT quốc gia do Bộ GD&ĐT tổ chức. Trường ĐH Giao thông vận tải Hà Nội cũng không có hình thức riêng nào khác.

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân vẫn giữ các khối thi truyền thống là A, A1, D1 và mở rộng thêm một số tổ hợp môn thi cho các thí sinh thêm lựa chọn.

Trong các tổ hợp mới này môn Toán sẽ là môn bắt buộc và thí sinh có thể chọn thêm 2 trong 4 môn Ngữ văn, Vật lý, Sinh học, Hóa học.

Ngoài các khối thi truyền thống, trường sẽ xét tuyển thêm khối B vào gần như tất Quản trị kinh doanh bằng tiếng Anh và Các chương trình định hướng ứng dụng nghề nghiệp) sẽ thi 2 môn bắt buộc là Toán và tiếng Anh, môn còn lại do thí sinh tự chọn trong số các môn Ngữ văn, Vật lý, Hóa học, Sinh học.

Ông Trần Văn Nghĩa, Cục phó Cục khảo thí và kiểm định chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, theo quy định của Bộ GD&ĐT, bắt buộc các trường phải sử dụng khối thi truyền thống và có quyền mở rộng thêm các khối thi.

Bộ cũng đã khuyên các trường nên chọn khối thi như thế nào cho hợp lí nhất, dựa trên tổ hợp cũ để học sinh đỡ vất vả trong việc ôn luyện thêm môn mới. Bởi vậy, đến thời điểm này đa phần các trường vẫn sử dụng khối thi truyền thống. Bên cạnh đó cũng có những trường mở rộng thêm khối thi nhưng trên cơ sở lựa chọn rất kĩ càng, rất “tinh” và thêm ở một mức độ nhất định.

Diệu Thu (Khám phá)

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 1 trong tổng số 2
Đăng nhập



Thông báo mới
Video
Hình ảnh hoạt động
LOADING